Trong bài kinh SN12.63, Puttamaṃsa sutta, kinh Thịt đứa con, Đức Phật đã đề cập đến bốn loại thức ăn, đưa đến sự tồn tại hay chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình:”cattārome, bhikkhave, āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya.” Bốn loại thức ăn đó là:
- Đoàn thực – kabaḷīkāra-āhāra.
- Xúc thực – phassa-āhāra.
- Tư niệm thực – manosañcetanā-āhāra. Và:
- Thức thực – viññāṇa-āhāra.
Bốn loại thức ăn có thể hiểu và giải thích ở mức độ đơn giản nhất, gần gũi nhất như sau:
Thứ nhất là đoàn thực, kabaḷīkāra-āhāra. Chữ kabaḷīkāra trong tiếng Pali được ghép bởi hai từ kabaḷa + kāra, nghĩa là được chia thành những miếng nhỏ, dùng để chỉ các loại thức ăn thô (oḷārika) hoặc tế (sukhuma), có thể ăn được, sử dụng được. Đoàn thực là nguồn thức ăn, được nạp vào cơ thể qua đường ăn, uống, hít thở, nhằm cung cấp năng lượng để duy trì và nuôi dưỡng sinh mạng của một cá thể sống, bao gồm cả thân và tâm, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Mặc dù theo cách mô tả trong kinh Puttamaṃsa sutta, chúng ta có khuynh hướng nhìn nhận đoàn thực như là nguồn thức ăn dành để nuôi dưỡng phần thân thể là chính. Nhưng trong giáo lý Phật giáo nói chung, thân và tâm lại là hai yếu tố không thể tách rời, chúng nương tựa, kết hợp với nhau thành một thể hợp nhất (mà chúng ta gọi là một chúng hữu tình, một chúng sinh hay một cá thể sống độc lập) để hiện hữu. Vậy nên, đoàn thực, là nguồn thức ăn, không chỉ nuôi thân, mà còn nuôi tâm.
Thức ăn thô (oḷārika) và tế (sukhuma) có thể hiểu theo hai hướng. Thứ nhất, thức ăn thô dùng để chỉ các loại vật thực có thể ăn được, uống được như thịt cá, rau củ, trái cây, nước ép, nước, sữa…, còn thức ăn tế dùng để chỉ những tinh chất (hoặc vi chất – ojā) được cơ thể hấp thụ qua quá trình phân giải và tiêu hóa thức ăn thô. Ngoài ra, thức ăn thô còn có thể hiểu là thức ăn dành cho cõi người, thú hoặc các cõi thấp hơn như ngạ quỷ, trong khi thức ăn tế là thức ăn của các chư thiên thuộc dục giới. Điều này có được nhắc đến trong kinh Brahmajāla sutta, kinh Phạm Võng thuộc Trường bộ kinh, trong phần chủ trương về Đoạn diệt luận (Ucchedavāda): “Atthi kho, bho, añño attā dibbo rūpī kāmāvacaro kabaḷīkārāhārabhakkho. – Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, thuộc dục giới, ăn các đồ ăn đoàn thực.” Như vậy, có thể nhận thấy một cách chung nhất, đoàn thực -kabaḷīkārāhāra là các loại thức ăn dành cho các chúng sinh thuộc dục giới.
Ở phần này, Đức Phật nhắc nhở các vị Tỷ kheo về việc quán sát mục đích sử dụng đoàn thực như sau, không phải để vui đùa (davāya), không phải để thích thú (mang tính hưởng thụ) (madāya), không phải để trang sức, tô điểm (maṇḍanāya), không phải để làm đẹp, cho cơ thể béo tốt (vibhūsanāya), mà chỉ để nuôi mạng sống, loại trừ đói khát, giống như đôi vợ chồng, đã phải ăn thịt chính đứa con của mình, để vượt qua vùng rừng rậm hoang vu.
Ngài còn nói rằng: “Khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.” Như vậy, việc sử dụng đoàn thực có liên hệ đến “lòng tham” (rāga) đối với năm dục trưởng dưỡng (hay còn gọi là năm dục công đức – pañca kāmaguṇika). Vậy năm dục trưởng dưỡng là gì và mối liên hệ giữa đoàn thực với năm dục trưởng dưỡng cần phải hiểu như thế nào?
Năm dục trưởng dưỡng là một cụm từ dùng để các đối tượng thuộc về năm trần cảnh (Sắc, thanh, hương, vị, xúc), khi được nhận biết qua năm giác quan thuộc về thân (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), làm sinh khởi và tăng trưởng tâm tham đắm, ái luyến, dính mắc trong các cảnh trần đó. Đức Phật đã mô tả năm dục trưởng dưỡng – pañca kāmaguṇika trong Trung bộ kinh 26, Ariyapariyesanasuttaṁ, Kinh Thánh cầu, như sau: “1. Khi các sắc được nhận biết bởi con mắt, 2. Khi các âm thanh được nhận biết bởi lỗ tai, 3. Khi mùi hương được nhận biết bởi mũi, 4. Khi các vị được nhận biết bởi lưỡi, 5. Khi các xúc chạm được nhận biết bởi thân – khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Như vậy là năm dục trưởng dưỡng.”
Tiếp theo, mối liên hệ giữa đoàn thực với năm dục trưởng dưỡng. Quan sát một cách chân thực trong đời sống hàng ngày chúng ta có thể nhận thấy đoàn thực liên hệ mật thiết với dục ăn. Việc thiếu tiết độ trong ăn uống dễ dàng kích thích và làm tăng trưởng tham ái và dính mắc không chỉ với các loại thức ăn mà còn với các cảnh trần khác. Ngoài ra, có thể xem đoàn thực là gốc rễ của cả năm loại dục lạc bởi vì ham muốn dục lạc sẽ tăng trưởng mạnh mẽ khi cơ thể được nuôi dưỡng đầy đủ bằng vật thực.
Thứ hai là xúc thực, phassa-āhāra. Chữ Phassa trong tiếng Pali có nghĩa là “sự xúc chạm”, “sự tiếp xúc” và thường được dịch sang tiếng Việt là “Xúc”. Trong giáo lý Phật giáo, phassa – xúc, không đơn thuần để chỉ sự tiếp xúc hay va chạm bề mặt giữa hai hay nhiều đối tượng mà thường để chỉ một tiến trình tâm lý diễn ra khi một trong sáu cửa giác quan tiếp xúc và thu nhận các đối tượng tương ứng của chúng. Xúc có 6 loại: 1. Nhãn xúc – cakkhusamphassa, sinh khởi khi mắt thấy sắc. Tương tự như vậy với 2. Nhĩ xúc – sotasamphassa (tai nghe âm thanh), 3. Tỷ xúc – ghānasamphassa (mũi ngửi mùi hương), 4. Thiệt xúc – jivhāsamphassa (lưỡi cảm thấy các vị), 5. Thân xúc – Kāyasamphassa (thân xúc chạm)., và 6. Ý xúc – Manosamphassa (ý tiếp xúc với các pháp-đối tượng của tâm).
Theo chuỗi Thập nhị nhân duyên Paṭiccasamuppāda, phassa là duyên trực tiếp để sanh khởi cảm thọ. Điều cần chú ý ở đây là sự khác biệt giữa phassa (contact hoặc sense-impression) và vedanā (sensations) đó là phassa chỉ là sự nhận biết đơn thuần khi có tương tác giữa 6 căn và 6 trần, nó diễn ra một cách khách quan, trong khi cảm thọ lại mang tính nhận thức có cảm tính chủ quan. Khi có xúc, luôn luôn có sự sinh khởi của một trong ba loại cảm thọ: thọ lạc – sukhā (cảm giác dễ chịu), thọ khổ – dukkhā (cảm giác khó chịu), và bất khổ bất lạc thọ – adukkhamasukhā (cảm giác trung tính, hoặc bình thường, không có ấn tượng đặc biệt). Ví dụ cùng một phassa, như một cái vỗ vai chẳng hạn, hai người khác nhau có thể sinh khởi hai loại cảm thọ khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh đang diễn ra với họ.
Trong bài kinh Puttamaṁsasutta, Đức Phật khuyên các vị tỳ kheo phải quán sát xúc thực giống như con bò bị lở da, dù nó có đứng ở đâu, thời các sanh vật ở đó cắn xé nó. Con bò bị lở da, phải chịu những xúc chạm làm sinh khởi cảm thọ đau đớn khó chịu không ngừng nghỉ. Chúng ta cũng vậy, chỉ cần chúng ta còn sống, chúng ta luôn luôn bị chịu tác động của những xúc chạm luân phiên không ngừng nghỉ qua sáu căn. Và tất cả những gì mà chúng ta tiếp xúc và thu nhận qua 6 cửa giác quan, hình sắc, âm thanh, mùi, vị, sự xúc chạm, các ý tưởng đều là nguồn thức ăn bất tận nuôi dưỡng cảm thọ, bao gồm cảm giác trên thân và cảm xúc trên tâm. Tâm thích thú với những cảm giác dễ chịu và né tránh những cảm giác gây khó chịu, vậy nên chúng ta sẽ có khuynh hướng tìm kiếm hay tạo ra những cảnh trần, rồi thông qua xúc để tiếp tục mang đến cảm giác dễ chịu và loại bỏ cảm giác khó chịu hay trung tính, không dễ chịu hay khó chịu. Đây cũng là lý do vì sao, trong bài kinh Puttamaṃsa, mối liên hệ giữa xúc và 3 cảm thọ cần phải được hiểu biết.
Xúc nuôi dưỡng cảm thọ. Có ba loại cảm thọ, dù dễ chịu, lạc thọ (sukhā) hay khó chịu, khổ thọ (dukkhā), hay không dễ chịu cũng không khó chịu, bất khổ bất lạc thọ (adukkhamasukhā) đều có chung một kết quả, đó là dẫn đến quả khổ. Có ba loại khổ tương ưng với ba loại cảm thọ. Đầu tiên đó là hoại khổ (Vipariṇāma-dukkha), tương ứng với lạc thọ, vì do bản chất của vạn pháp là vô thường, sự tan ra và đoạn diệt của lạc thọ đưa tới đau khổ. Thứ hai là khổ khổ (dukkha-dukkha), khổ chồng thêm khổ, nó tương ứng với khổ thọ, bởi nó thể hiện bản chất tự nhiên của chúng hữu tình trong sanh tử luôn hồi, đó là khi sinh ra và chết đi, mọi chúng hữu tình đều phải trải nghiệm những đau khổ tự nhiên chồng chéo lên nhau qua thân và tâm. Và cuối cùng là hành khổ (saṅkhāra-dukkha), nó tương ứng với bất khổ bất lạc thọ, vì sao? Hành trong hành khổ ở đây được hiểu theo khuynh hướng của tâm đó là: “mong muốn thay đổi (hoàn cảnh hiện tại) và tìm kiếm sự thân thuộc (trong quá khứ) hoặc sự mới lạ (trong tương lai)” do đa số chúng hữu tình thường không thể chịu đựng được quá lâu cảm giác nhàm chán, trống rỗng và có phần cô độc hờ hững, thiếu kết nối (với cuộc sống) mà bất khổ bất lạc thọ mang đến. Vậy nên dù ở đâu, trong bất tình huống nào, có xúc có thọ, thì sẽ đều kinh nghiệm khổ. Đó là điều chúng ta cần phải hiểu. Điều này vô cùng tương ứng với hình ảnh con bò bị lở loét mà Đức Phật đã đưa ra phía trên.
Loại thức ăn thứ ba mà Đức Phật nói đến là Tư niệm thực – Manosañcetanā-āhāra. Ở đây, Manosañcetanā, sañcetānā, và cetanā là ba từ đồng nghĩa, đều dùng để chỉ ý chí, tư tác, suy nghĩ tìm cầu để duy trì, để tiếp tục hoặc để hoàn thành, hoàn thiện điều mà một chúng sinh khao khát, mong cầu, tham luyến. Vậy nên manosañcetanā chính là nguồn thức ăn, nguồn nhiên liệu tiếp năng lượng cho ái – Taṇhā, nuôi dưỡng ái và khiến cho lòng tham ái càng trở nên mạnh mẽ, sâu dày. Có ba loại ái – Taṇhā – tương ứng với 3 loại tham đắm dính mắc của chúng hữu tình vào các cảnh giới tồn tại, bao gồm 1. Dục ái – kāmataṇhā, tham đắm trong sáu cảnh trần thuộc dục giới, 2. Hữu ái – bhavataṇhā, tham ái vào sự sống, sự hiện hữu, sự trở thành, ví như tham đắm trong 6 cảnh trần hợp với thường kiến, hoặc tham ái trong thiền hữu sắc, thiền vô sắc, cõi trời hữu sắc, vô sắc), và 3. Phi hữu ái – Tham đắm sáu cảnh trần hợp với đoạn kiến, hoặc tham ái trong thiền vô sắc, cõi trời vô sắc.
Manosañcetanā ở đây tương đương với cetanā, hay kamma – nghiệp. Và nó được ví như người lực sĩ trong kinh Puttamaṃsa. Hai người lực sĩ này tương ưng với hai dòng nghiệp lực thiện và ác không ngừng kéo lê một người về phía hố than hồng, ẩn dụ cho saṃsāra, dòng luôn hồi khổ đau bất tận trong tam giới. Dù muốn hay không muốn, một người cũng không thể cưỡng lại dòng nghiệp lực do chính mình tạo ra. Họ bị chính tư ý, tư tác, tư dục (cetanā) của mình thôi thúc, dẫn dắt luân chuyển, luân hồi trong các cảnh giới và qua đó, thọ lãnh các quả báo thiện ác của mình. Manosañcetanā – tư niệm thực không gì khác chính là nguồn dẫn dắt tái sinh, là thứ đưa chúng sanh vào cảnh khổ trong luôn hồi, phải đi đến chỗ chết hoặc đau khổ gần như chết. Vậy nên Đức Phật mới dạy chúng ta phải quán sát manosañcetanā như vậy.
Phần phía trên phân tích tư niệm thực – manosañcetanā ở góc độ rộng, liên hệ với ba loại ái dẫn đến các cảnh giới tồn tại tương ứng. Phần dưới này sẽ đề cập đến manosañcetanā dưới những góc nhìn hẹp hơn, trong một kiếp sống của con người. Chúng ta, từ khi sinh ra cho đến khi chết, trong mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc đời, đều có những khao khát, mong cầu hay ý nguyện nào đó muốn đạt được – và đó là những thứ định danh định hình chúng ta là ai, là người như thế nào. Và điều này cần manosañcetanā – ý chí để nuôi dưỡng hay duy trì hay để hoàn thành những mong cầu này (ái). Thứ ý chí này thúc đẩy chúng ta hành động, kiến tạo, xây dựng một thế giới xoay quanh chúng ta – có thiện – có ác – và những dòng nghiệp lực này cũng xoay chuyển chúng ta trong một vòng xoáy vui khổ của một kiếp người. Ý thức được điều này rất quan trọng, nó giúp chúng ta đứng lùi lại và thoát dần ra khỏi lực kéo đẩy của những mong cầu (ái) và thứ ý chí muốn thực hiện, muốn thỏa mãn mong cầu ấy (tư niệm thực).
Loại thức ăn thứ tư là Thức thực – Viññāṇa-āhāra. Viññāṇa được dịch sang Tiếng Việt là Thức. Đây là một từ Hán Việt có nghĩa là biết, nhận biết, tri dã (biết như vậy). Bản chất của viññāṇa là nhận biết các đối tượng một cách đơn thuần. Nó sinh khởi đồng thời khi sáu căn xúc với sáu trần. Vậy nên có sáu loại thức tương ứng với sáu căn, nhãn thức (cakkhu-viññāṇa), nhĩ thức (sota-viññāṇa), tỷ thức (ghāna-viññāṇa), thiệt thức (jivhā – viññāṇa), thân thức (kāya-viññāṇa) và ý thức (mano-viññāṇa).
Ngoài ra, viññāṇa còn có chức năng khác khi liên hệ với thức thực, viññāṇa-āhāra, được Đức Phật nhắc đến đến trong bài kinh Moḷiyaphaggunasutta (SN12.12) như sau: “viññāṇāhāro āyatiṁ punabbhavābhinibbattiyā paccayo – Thức thực là duyên cho sự sanh thành, cho sự tái sanh trong tương lai.” Viññāṇa ở đây đóng vai trò là tâm tục sinh (hay tâm kiết sinh – paṭisandhi-citta) – tâm khởi đầu tiên trong một kiếp sống mới, đánh dấu khoảnh khắc một chúng sinh tái sinh vào lòng mẹ hoặc cõi giới tương ứng. Nó bắt đầu một đời sống mới sau khi đời sống cũ đã kết thúc. Như vậy, với chức năng là tâm tục sinh, thức thực giúp phò trợ các loài hữu tình sẽ sinh.
Tuy nhiên, Thức thực, giống ba loại thức ăn trên, cũng là nguồn thức ăn hay nhiên liệu giúp an trú các loài hữu tình đã sinh. Bởi vì để một chúng sanh hoàn tất một chu trình sinh tử, từ khi được sinh ra, có thể trưởng thành, cho đến khi già chết, đồng thời mở ra một chuỗi sanh già – sầu, bi, khổ, ưu, não – chết – một khối khổ uẩn mới ở đời sống này, thì thức (viññāṇa) và danh sắc (nāma-rūpa) cần phải nương vào nhau, thức làm duyên cho danh sắc, và danh sắc làm duyên cho thức để cùng tồn tại và biểu hiện dưới một thể dạng sống hợp nhất, một chúng sinh có thức tánh. Điều này được giải thích trong bài kinh Đại Duyên, Mahanidāna sutta thuộc trường bộ kinh như sau: 1. Nếu thức không đi vào trong bụng mẹ, thì danh sắc không thể hình thành trong bụng mẹ, 2. Nếu thức đi vào trong bụng bà mẹ rồi bị tiêu diệt, thời danh sắc không thể hình thành trạng thái này, trạng thái khác, 3. Nếu thức bị đoạn trừ trong đứa con nít, hoặc là đồng nam hay đồng nữ, thời danh sắc cũng không thể lớn hơn, trưởng thành và thành mãn. Mối liên hệ giữa thức thực (viññāṇa-āhāra) và danh sắc (nāma-rūpa) cần được hiểu như vậy.
Cách mà Đức Phật sử dụng ví dụ về thức thực, hình ảnh người tù tội đại diện cho hợp thể sống thức – danh – sắc, bị chịu hình phạt 100 hèo, có thể hiểu là những nghiệp quả mà hợp thể đó phải gánh chịu trong kiếp tái sinh, ba thời sáng trưa chiều, có thể hiểu theo 3 kiếp quá khứ hiện tại tương lai, còn tái sinh thì hợp thể đó sẽ còn thọ lãnh các cảm thọ khổ đau, hoặc cũng có thể hiểu theo 3 giai đoạn của một đời sống từ khi sinh ra, trưởng thành và già chết, không có thời điểm nào là không khổ. Nhà vua, đại diện cho luật nhân quả, nghiệp và quả của nghiệp. Chúng sanh là người tạo nghiệp và thọ lãnh nghiệp của chính mình.
Qua những phân tích phía trên, ta thấy được vai trò và chức năng của bốn loại thức ăn trong quá trình hình thành và phát triển một thể dạng sống ở tất cả các phương diện tâm sinh vật lý. Bốn loại thức ăn này cũng không ngừng hỗ trợ lẫn nhau không chỉ để duy trì sinh mạng của một chúng hữu tình trong kiếp sống này mà còn làm nhân làm duyên dẫn dắt chúng sinh ấy không ngừng tái sinh trong vòng luân hồi.